I.
Chưa tuân thủ nghiêm túc
pháp luật về an toàn lao động
Ở nước ta, đến năm 1991, vệ sinh an toàn lao động mới là nội
dung quan trọng của Pháp lệnh Bảo hộ lao động. Năm 1994, Bộ Luật Lao động ban
hành cũng thể hiện một số điều về an toàn vệ sinh lao động. Vấn đề này được đề
cập thông qua một số luật, văn bản dưới luật do Chính phủ, các bộ, ngành ban
hành. Nhìn chung, an toàn vệ sinh lao động được xem xét khá cụ thể, đề cập tới
nhiều nội dung, nhưng lại rải rác và rất tản mạn, vô hình tạo ra sự phức tạp,
chồng chéo, thiếu toàn diện, gây khó khăn cho việc thực thi.
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến quy định về an
toàn lao động lại chưa được quan tâm thường xuyên, đặc biệt là ở những khu vực
có lực lượng lao động rất đông đảo như các khu công nghiệp…
Thẳng thắn nhìn nhận vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền đã chỉ ra: “Công tác an toàn vệ sinh
lao động ở ta hiện còn một số yếu kém. Việc tuân thủ luật pháp về an toàn vệ
sinh lao động của nhiều doanh nghiệp chưa nghiêm, một số cơ sở thực hiện chỉ
nhằm đối phó với sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Nhiều nơi môi trường sản
xuất ô nhiễm gây bệnh tật, suy giảm sức khỏe cho người lao động. Việc đo kiểm
tra định kì các yếu tố có hại trong môi trường lao động còn rất hạn chế. Số vụ
tai nạn lao động chết người có quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự rất
thấp”.
Đơn cử như tại Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh - một trong
những khu kinh tế trọng điểm được Chính phủ quan tâm đầu tư, xây dựng. Tại đây
rất nhiều dự án trọng điểm quốc gia đã và đang triển khai. Tuy nhiên, việc quản
lý lao động, đảm bảo an toàn lao động tại các công trường lại chưa được các tập
đoàn, doanh nghiệp triển khai tốt.
Khi triển khai dự án, các tập đoàn, doanh nghiệp hợp đồng
giao cho các nhà thầu phụ thi công và tự tuyển lao động cũng như các thiết bị
công nghệ. Đa số là lao động phổ thông là người Việt Nam. Trong quá trình thi
công, các nhà thầu chỉ cần lao động phổ thông để lắp đặt giàn giáo, xây dựng,
làm điện, nước và thi công các phần việc khác, nên việc trang bị kiến thức an
toàn lao động cho người lao động không được thực hiện thường xuyên.
Người lao động vì cuộc sống mà bỏ qua những nguy hiểm rình
rập, thường xuyên phải đối mặt. Mỗi ngày, hàng trăm công nhân làm việc ở độ cao
hàng chục mét hoặc trong môi trường khắc nghiệt ở các công trường nhưng việc
trang bị những thiết bị bảo hộ lao động cần thiết vẫn ở mức hạn chế.
Các tập đoàn, doanh nghiệp chưa đảm bảo an toàn lao động,
trong khi công tác quản lý của các đơn vị chức năng Hà Tĩnh cũng mang tính hình
thức và không quyết liệt. Năm 2014, Sở Lao động Thương binh và Xã hội
cùng với Sở Xây dựng thành lập đoàn liên ngành kiểm tra an toàn lao động, phòng
chống cháy nổ ở Khu kinh tế Vũng Áng đã phát hiện hàng trăm doanh nghiệp vi
phạm các quy định về không bảo đảm an toàn lao động và đã xử phạt hơn 1 tỷ
đồng. Tuy nhiên, đoàn liên ngành không đình chỉ thi công đơn vị nào và cũng
không kiểm tra các doanh nghiệp có sửa chữa lỗi hay không.
Do không bảo đảm an toàn lao động nên quá trình thi công các
dự án trong Khu kinh tế Vũng Áng đã xảy ra tai nạn nghiêm trọng. Tháng 7/2014,
tại Dự án Formosa đã xảy ra vụ sập giàn giáo làm hai công nhân tử vong và ba
người khác bị thương. Trước đó, vào ngày 25/3, vụ sập giàn giáo ở công
trường của Tập đoàn Samsung nằm trong Khu kinh tế Vũng Áng đã làm 13 người chết
và 28 người bị thương.
II.
Cần
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
Để giảm thiểu tối đa các vụ tai nạn lao động và giữ gìn an
toàn lao động trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp cần tích cực đào tạo
ý thức an toàn lao động cho công nhân cũng như những người quản lý định kỳ và
thường xuyên. Mỗi doanh nghiệp cần hoàn thiện bộ máy làm công tác an toàn lao
động. Bản thân người lao động cũng phải tự trang bị cho mình kiến thức về an
toàn lao động, tự tìm hiểu thêm quy định của pháp luật về chế độ an toàn vệ
sinh lao động.
Về phía các địa phương có khu công nghiệp, cần thường xuyên
tổ chức tuyên truyền, tập huấn, kiểm tra, hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực
hiện đúng quy định về an toàn lao động. Tăng cường giám sát doanh nghiệp trong
quá trình lao động, tuân thủ quy định pháp luật.
Ban quản lý các khu công nghiệp cũng cần xây dựng văn bản
hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp, nhà đầu tư, thực hiện các quy định của
pháp luật về quản lý lao động. Đồng thời, cử cán bộ thường xuyên bám sát từng
doanh nghiệp nắm tình hình về lao động. Thực hiện việc yêu cầu báo cáo
tình hình sử dụng lao động định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng và hàng năm
đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp phù hợp với từng đối tượng. Đổi
mới cách thức quản lý lao động để công tác quản lý lao động đạt hiệu quả tốt
nhất.
Ngoài ra, ban quản lý khu công nghiệp cần hướng dẫn các
doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định về tiêu chuẩn môi trường làm
việc tạo môi trường làm việc có sự hạn chế tối đa các yếu tố ảnh hưởng đến sức
khoẻ người lao động. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy định này của
doanh nghiệp. Đồng thời, đôn đốc thành lập tổ chức công đoàn, xây dựng thoả ước
lao động, xây dựng mối quan hệ hài hoà giữa người sử dụng lao động và người lao
động, tạo môi trường làm việc thân thiện cho người lao động./.